Hiển thị các bài đăng có nhãn kienthucit. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kienthucit. Hiển thị tất cả bài đăng

3/1/13

Facebook đang kiếm tiền của bạn như thế nào?

Bất chấp thế nào, thì năm 2012 Facebook đang thực sự đặt ra một dấu hiệu thu lời đối với người sử dụng.
Facebook đang chịu áp lực của các nhà đầu tư về việc tiến tới các cách thức kiếm tiền và trong năm qua đã bắt đầu có một sự thay đổi căn bản trong cách thức Facebook hoạt động. Khi công ty này lần đầu phát hành cổ phiếu ra công chúng (IPO) hồi tháng 2, CEO Mark Zuckerberg đã phát biểu rất rõ ràng lợi nhuận sẽ không phải là ưu tiên đầu tiên của mình và Facebook. “Đơn giản: chúng tôi muốn xây dựng các dịch vụ để thu lợi nhuận”, Mark Zuckerberg đã viết trong hồ sơ phát hành. 8 tháng và nhiều ngày bán cổ phiếu không thành công sau đó, Zuckerberg đã thể hiện quyết tâm về tăng doanh thu rằng mỗi đội ngũ tại Facebook hiện nay đều có trách nhiệm với chiến lược doanh thu đối với sản phẩm của mình.
Trong năm qua, chúng ta đã chứng kiến Facebook nỗ lực thực hiện một loạt phương thức để thu tiền từ người sử dụng từ việc chèn thêm nhiều quảng cáo vào News Feed (thành phần để bạn cập nhật tin tức từ bạn bè trên giao diện Facebook) hay lựa chọn đã được thông báo gần đây cho phép những người bạn không biết nhắn tin nhắn vào hộp thư của bạn sẽ phải trả 1 USD, giống như khả năng nhắn tin, đã nhận được chỉ trích từ người sử dụng trong khi các lựa khả năng khác đã đang được thử nghiệm.
Vấn đề nào hiện nay đối với Facebook từ quan điểm của nhà đầu tư là tăng thu bao nhiêu từ mỗi người sử dụng. Facebook đã thu được trung bình khoảng 1,25 USD/người sử dụng trong quý 3 năm 2012, từ khoảng 1,19 USD trong cùng quý của năm 2011.
Tính theo cách khác, hiện nay bạn đáng giá khoảng 5 USD/năm đối với Facebook và công ty này thực sự mong con số này sẽ tăng lên.
Theo đó, không thể ngăn Facebook tìm các cách thức mới để thu tiền từ bạn trong năm mới. Brian Wieser, nhà phân tích nghiên cứu cao cấp tại Tập đoàn nghiên cứu Pivotal cho biết một số tính năng được giới thiệu trong năm nay như Sponsored Stories (các câu chuyện được tài trợ) cho di động sẽ vì mục đích này và Facebook sẽ tiếp tục thử các tính năng khác để xem các tính năng này sẽ và chưa được vận hành ra sao.
“Tôi nghĩ các bạn nên xem xét các thử nghiệm sắp tới và tìm hiểu doanh thu quảng cáo về những gì cân đối tăng trưởng doanh thu cận gần với tính lâu bền. Với quan điểm đó, dưới đây là phân tích tất cả các cách thức Facebook đã nỗ lực tăng thu từ bạn trong năm nay, cũng như có cái nhìn khả năng xảy ra trong năm tới”, Wieser cho biết.

Đưa những câu chuyện được tài trợ lên News Feed của bạn

Facebook đã tung ra Sponsored Stories vào đầu năm 2011, trong một nỗ lực ban đầu để thu tiền từ hoạt động trên trang web máy tính để bàn bằng cách chuyển người sử dụng cho các công ty gần như là những công ty quảng cáo thương hiệu. Năm nay, Facebook đã nỗ lực tiến xa bằng cách đặt nhiều quảng cáo của họ lên các News Feed của người sử dụng, mà theo đó người sử dụng bắt gặp quảng cáo nhiều hơn và thu được tỉ lệ click nhiều hơn. Đây đã là cỗ máy kiếm tiền cho Facebook, mang lại hơn 1 triệu USD/ngày, nhưng nó cũng đã cho thấy có đôi chút vấn đề. Người sử dụng đã kiện lại Facebook đầu năm nay, phản đối việc đưa tên tuổi và ảnh của họ vào các quảng cáo.

Quảng cáo trên ứng dụng của Facebook

Từ quan điểm của các nhà đầu tư, không có gì quan trọng hơn đối với Facebook là chứng minh có thể kiếm tiền từ di động. Điều này được Facebook thực hiện hồi giữa năm bằng cách giới thiệu Sponsored Stories, các quảng cáo cài đặt ứng dụng và Offers vào trong các đăng tải di động của người sử dụng. Trong quý 3, chỉ một vài tháng sau khi Facebook tung ra các quảng cáo di động này - Facebook đã thu được 139 triệu USD từ các quảng cáo di động, hay 14% tổng doanh thu quảng cáo.
Facebook hiện kiếm được 3 triệu USD/ngày nhờ chèn nội dung quảng cáo vào News Feed di động của bạn và như Zuckerberg đã cho biết tại một cuộc họp với các nhà phân tích “Chúng tôi đang chỉ bắt đầu”.

Quảng cáo di động ở các ứng dụng bên thứ 3

Thậm chí sau khi bạn rời Facebook, Facebook vẫn có thể tìm các cách thu tiền của bạn. Hồi tháng 9, Facebook bắt đầu thử nghiệm đặt nhiều quảng cáo di động ở các ứng dụng bên thứ 3. Trao đổi quảng cáo đã cho phép các trang web và các ứng dụng nhất định sử dụng thông tin của Facebook để tập trung nhiều người sử dụng hơn với các quảng cáo thúc đẩy trang web hay cung cấp đường link để tải ứng dụng. Facebook gần đây đã đặt sản phẩm quảng cáo này vào mục tiêu. Như một đại diện đã nói với Mashable “Chúng tôi đã học hỏi nhiều từ thử nghiệm này, thử nghiệm sẽ rất hữu ích trong tương lai”.

Các đăng tải được quảng cáo

Khi mạng xã hội đông đúc hơn với các đăng tải của nhiều người sử dụng và các nhà quảng cáo, một số các cập nhật của bạn bị lạc trong clutter (các tập tin được tạo ra bởi các chương trình để sử dụng tạm thời). Do đó Facebook đã quyết định trao cho những người sử dụng một lựa chọn mới hồi tháng 10 để cho phép người sử dụng “quảng cáo” các đăng tải của mình trong các News Feeds của bạn bè. Như Matt Silverman của Mashable đã viết lúc đó, Facebook hiện đã áp dụng mô hình kinh doanh “freemium” (hoạt động dựa trên việc cung cấp miễn phí các dịch vụ/sản phẩm với các chức năng cơ bản nhưng thu phí nếu người sử dụng muốn sử dụng các chức năng cao cấp hơn của dịch vụ/sản phẩm) cho dịch vụ của mình.

Các quà tặng của Facebook

Sau nỗ lực và thất bại vận hành một cửa hàng quà tặng 2 năm trước, Facebook đã quyết định đưa ý tưởng các quà tặng này vào tầm ngắm mới. Hồi tháng 9, Facebook đã tung ra quà tặng của Facebook (Facebook Gifts), được hỗ trợ bởi công ty có ứng dụng tặng quà Karma được Facebook mua lại hồi đầu năm, trong nỗ lực tạo ra luồng doanh thu mới. Như đã được đề cập, gần đây Facebook đã thu được chỉ trung bình 5 USD/năm. Nếu mỗi người sử dụng chỉ mua một món quà nhỏ qua Gifts, khối lượng đó sẽ tăng bùng nổ trong năm tới. Đó là lí do tại sao bạn thấy ngày càng nhiều nhắc nhở trên trang để mua cho ai đó một món quà tặng vào một dịp đặc biệt.

Các tin nhắn phải trả tiền

Facebook đã quyết định nỗ lực tăng thu hơn trước cuối năm nay, thông báo trong tuần này là Facebook đang thử nghiệm một lựa chọn mới cho phép người sử dụng chi 1 USD để đảm bảo tin nhắn được chuyển phát đến hộp thư của ai đó, thậm chí là cả khi người đó không kết nối mạng. Cho tới nay, các thông điệp chỉ được chuyển phát tới hộp thư của Facebook nếu được gửi nhờ ai đó là bạn của bạn hoặc ai đó mà bạn chia sẻ các kết nối với nhau. Mặt khác, thông điệp sẽ đi vào phần con trong hộp thư của bạn được gọi là Other, mà về bản chất là một mục thư rác.
Facebook đang yết thị lựa chọn như một nỗ lực giảm spam bằng cách đặt một chi phí cho người sử dụng ngăn việc này bằng cách nhắn tin cho những người mà họ không biết. Nhưng điều này chỉ là dẫn tới một việc ngập spam từ các nhà tiếp thị và những người khác mà có thể muốn tiếp cận inbox Facebook của bạn. Trong khi kế hoạch này sẽ thay đổi, một đại diện của Facebook choMashable biết một người sử dụng có thể sớm phải trả phí một lần là 1 USD để nhắn vào hộp thư với số lần không hạn chế đến khi bạn quyết định đánh dấu tin nhắn này là tin rác.

Quảng cáo video trên News Feed

Nỗ lực lớn tiếp theo của Facebook là kiếm tiền bằng cách đặt các quảng cáo video vào News Feed. Kỉ nguyên quảng cáo gần đây đã tóm tắt các lắng nghe của “nhiều lãnh đạo ngành” là Facebook đang có kế hoạch để các nhà quảng cáo đặt các quảng cáo 15 giây trong News Feeds của người sử dụng trên máy tính để bạn và di động vào tháng 4/2013. Hơn thế, các quảng cáo có thể được đặt trên autolplay, có nghĩa là các quảng cáo sẽ khởi động một khi bạn mở trang, dù bạn muốn hay không.
Facebook dường như đang mở ra thời kì mới.
Theo ICTPress

20/8/10

10 cách để bảo mật website của bạn khi dùng opensource

Trong những năm gần đây, số lượng opensource phát triển nhanh và đặc biệt là các tính năng đều đáp ứng được các mong đợi của người sử dụng. Phải kể đến một số opensource như: Drupal, Joomla, Wordpress, Moodle, phpBB, MyBB...

Với sự ra đời của opensource, người sử dụng không cần phải am hiểu sâu về lập trình cũng có thể tự tạo cho mình 1 website với đầy đủ chức năng. Tất nhiên, đối với các bạn có nhiều kiến thức về lập trình thì sẽ xây dựng website tốt hơn và đẹp hơn.

Và sau đây, tôi xin nêu 10 cách để bảo mật website của bạn khi sử dụng opensource:

1. Lựa chọn opensource cho bạn:

Đây là một bước rất quan trọng. Bởi vì: tìm kiếm 1 opensource phù hợp với nhu cầu của bạn sẽ giúp bạn hài lòng với các chức năng mà bạn muốn, giúp tinh gọn source của bạn hơn. Sau đây xin gợi ý một số hướng giúp bạn dễ dàng chọn opensource:
- CMS: Joomla ( Tính năng khá đầy đủ, dễ quản trị ), Drupal ( Tính năng linh hoạt, code nhẹ, load nhanh, rất khó quản trị), Wordpress ( tính năng chủ yếu dành cho Blog, dễ quản trị ).
- Forum: MyBB, phpBB
- Elearning: Moodle

2. Thường xuyên cập nhật phiên bản mới

Vì bạn sử dụng opensource và một khi nhà phát hành tiến hành ra phiên bản mới thường có 2 vấn đề chính: một là phiên bản hiện tại có một số lỗi nghiêm trọng, hai là cập nhật các tính năng mới.
Với việc ra một phiên bản mới, bạn cần phải cập nhật ngay khi có thể. Nếu bạn tỉ mỉ thì có thể vào website của nhà phát hành, sau đó đọc các thông tin về phiên bản mới, lúc đó nếu bạn bận công việc thì có thể hoãn lại việc cập nhật, nếu không tôi khuyên bạn hãy cập nhật ngay.

3. Sử dụng mật khẩu mạnh

Đừng bao giờ sử dụng mật khẩu dạng: 123456 hoặc sử dụng ngày sinh hoặc nickname của bạn hay người yêu của bạn. Điều này rất dễ bị hacker đoán ra. Việc mật khẩu quá ngắn sẽ làm cho các software dò mật khẩu dễ dàng tìm được. Hãy sử dụng mật khẩu trên 6 ký tự, bao gồm số và chữ, viết thường và viết hoa cùng các ký tự đặc biệt. Ví dụ: E@124oyukA

4. Bảo mật địa chỉ email administrator
Từ địa chỉ email của admin mà hacker có thể truy ra các thông tin khác của bạn. Hoặc đơn giản hacker sử dụng chức năng "khôi phục mật khẩu" thường có sẵn trong website để chọc phá bạn. Điều này làm bạn bối rối trong lần đầu và cực kỳ khó chịu trong các lần sau.

5. Thêm Table Prefix vào Database

Việc thêm table Prefix khi bạn cài đặt các opensource sẽ giúp hacker khó đoán ra khi cố gắng truy cập vào database của bạn.

6. Mật khẩu bảo vệ Database

Mật khẩu bảo vệ database cũng quan trọng không kém mật khẩu administrator của bạn. Nếu hacker có mật khẩu của database, họ sẽ dễ dàng truy cập vào database của bạn và dĩ nhiên họ có thể thay đổi cả mật khẩu administrator của bạn.

7. Xóa thư mục Installation

Với một số phiên bản trước và một số opensource thường không đòi hỏi bạn phải xóa thư mục installation khi cài đặt xong. Tuy nhiên, các phiên bản sau này hầu như đã có phần nhắc nhở bạn. Bạn nên xóa thư mục installation trên host sau khi cài đặt xong source.

8. CHMOD tập tin và thư mục

Hãy truy cập vào trang chủ của nhà phát hành opensource và CHMOD tập tin và thư mục theo sự hướng dẫn đó. Việc CHMOD sẽ giúp bạn phân quyền rõ ràng cho từng tập tin và thư mục, từ đó các tập tin - thư mục nhạy cảm sẽ được bảo vệ. Nếu bạn CHMOD không đúng, hacker có thể lợi dụng để chèn mã độc lên các tập tin - thư mục trên website của bạn.

9. Sử dụng .htaccess
Tập tin .htaccess giới hạn truy cập vào các thư mục cụ thể. Bạn nên tìm hiểu thêm về .htaccess hoặc có thể gửi một yêu cầu đến người quản trị host để được tư vấn. Lưu ý là bạn đừng xóa các tập tin .htaccess nhé ;)

10. Sử dụng các security plugins
Để việc bảo mật được tiến hành một cách tự động - Các lập trình viên đã viết ra các phần mở rộng giúp bạn khi cài đặt vào sẽ tự động thiết lập các tính năng bảo mật. Hãy đọc thật kỹ các tính năng của phần mở rộng đó, vì đôi khi nó lại làm hạn chế một số chức năng trong website của bạn.

Tin học & Ứng dụng

Chọn mua màn hình LCD cho máy tính để bàn

Thiết kế bề ngoài là một điểm mạnh của một LCD trước mắt người mua

Với chi phí không hơn màn hình CRT thông thường là bao nhưng LCD lại mang lại nhiều lợi ích đáng kể cho người sử dụng máy tính. Hiện nay, mẫu mã LCD đa dạng hơn nên người tiêu dùng có thêm nhiều lựa chọn phù hợp với ngân sách.

Khái niệm cơ bản

Một số yếu tố dưới đây bạn sẽ cần phải xem xét:

- Giá cả: giá của một màn hình LCD tùy thuộc vào tên loại, kích cỡ cũng như các tính năng của màn hình. Chẳng hạn, 2 màn hình có cùng kích cỡ hiển thị giống nhau nhưng một mẫu có tích hợp nhiều tính năng như cổng USB, khả năng điều chỉnh chiều cao, hiệu suất làm việc tốt hơn có thể chênh lệch hàng chục cho đến hàng trăm USD. Do đó, khi quan tâm đến vấn đề này, bạn hãy tập trung vào mục đích sử dụng của mình để đỡ lãng phí nguồn kinh phí.

- Kích thước: màn hình LCD thông thường hiện nay có kích thước dao động trong khoảng 15 đến 30 inch. Kích cỡ của bảng điều khiển được đo theo đường chéo. Màn hình càng lớn, giá tiền càng cao cũng như sẽ phù hợp với những khu vực có không gian làm việc lớn. Một màn hình LCD có kích thước 22 đến 24 inch được sử dụng phổ biến để xem các phim tài liệu, các bộ phim mà không chiếm quá nhiều diện tích của phòng.

- Thời gian đáp ứng: Được tính theo đơn vị miligiây, là thời gian cần để màn hình có thể thay đổi từ trạng thái đen sang trắng (b-w) hoặc bóng màu xám sang xám (g-g). Thời gian đáp ứng càng nhanh, màn hình sẽ hiển thị hình ảnh trong những đoạn video sẽ không bị tạo ra các bóng mờ khi chúng di chuyển. Những màn hình hiện nay phổ biến được trang bị thời gian đáp ứng 2/1000 giây (b-w) hoặc 5 ms (g-g) nên rất tốt cho việc chơi game.

- Độ phân giải: Là số điểm ảnh một màn hình có thể hiển thị, được tính theo chiều ngang và theo chiều dọc. Ví dụ một màn hình có độ phân giải 1080x1920 pixel nghĩa là nó có thể hiển thị 1920 điểm ảnh trên bề rộng và 1080 điểm ảnh tính từ trên xuống. Độ phân giải các cao, hình ảnh càng được hiển thị trên màn hình một cách sắc nét.

- Những đặc tính khác: Một màn hình loại đứng cho phép điều chỉnh góc nhìn theo chiều xoay hoặc chiều cao một cách thoải mái phù hợp với văn phòng. Bạn cũng có thể chọn một màn hình tích hợp webcam để hỗ trợ video chat, email hình ảnh nhưng độ phân giải của chúng là không cao. Trong khi đó, hầu hết các màn hình được tích hợp loa có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu hàng ngày nhưng công suất cũng như âm bass không cao, điều mà các game thủ hay những ai thường nghe nhạc sẽ thấy thất vọng. Nếu bạn cảm thấy âm thanh đầu ra là quan trọng, hãy kiếm một loại có công suất loa tối thiểu là 2 watt cho mỗi loa.

Điều cuối cùng cần quan tâm đó là màn hình có thể cung cấp một chất lượng hình ảnh có độ tươi sắc, rõ nét nhưng cũng có thể là chói đối với mắt bạn, do đó bạn cần lựa chọn chính xác màn hình kính bóng hoặc kính mờ trước khi quyết định mua.

Các xu hướng hiển thị

Hiện nay, các xu hướng màn hình được sử dụng trong máy tính để bàn bao gồm Twisted Nematic (TN+), PVA/S-PVA , và IPS. Trong đó phần lớn màn hình sử dụng công nghệ TN+ vì nó là đỡ tốn kém nhất so với 3 loại cũng như cung cấp hiệu suất xử lý chuyển động khá cao.

Về khả năng hiển thị những chất lượng hình ảnh cao hiện nay thì người dùng phải cần một màn hình có một độ phân giải ít nhất là 1920 x 1080 pixels, tỷ lệ màn hình là 16:9. Hầu hết các màn hình được chiếu sáng với công nghệ đèn huỳnh cathode lạnh (CCFL), nhưng một số nhà sản xuất đang bắt đầu sử dụng công nghệ đèn điốt phát quang (LED) để chiếu lền đèn nèn màn hình. Không chỉ có đèn LED cung cấp một hình ảnh sáng hơn CCFL mà nó còn có thiết kế nhỏ hơn, đòi hỏi lượng điện năng tiêu hao ít hơn và đặc biệt là sẽ giúp màn hình hiển thị mỏng hơn nhiều.

Trong khi thị trường HDTV chuẩn bị cho sự tấn công của phim 3D và chương trình phát sóng TV nhưng chúng vẫn còn trong thời gian phát triển. Khi mua LCD cần tập trung đến nhu cầu giải trí tại gia hơn là khả năng hỗ trợ game 3D.

Các loại Màn hình LCD

Các loại màn hình LCD được chia làm bốn loại: ngân sách, kinh doanh/chuyên nghiệp, đa phương tiện và chơi game phục vụ các mục tiêu khác nhau. Giá mỗi thể loại tùy thuộc vào công nghệ panel được sử dụng, kích thước bảng điều khiển và tính năng của nó.

- Đáp ứng nhu cầu về ngân sách: Nếu bạn chỉ cần kiếm một màn hình cơ bản để duyệt mail, lướt web, hiển thị các ứng dụng văn phòng thì không có lý do nào để tiêu một số tiền lớn để mua một màn hình có nhiều tính năng. Các loại màn hình phù hợp với ngân sách của người dùng thường không có cổng USB, đầu đọc thẻ, webcam tích hợp và thường sử dụng công nghệ panel TN+ với hiệu suất làm việc không cao, đặc biệt là khả năng xử lý hình ảnh chuyển động và độ chính xác của màu xám. Những loại này cũng không đi kèm tính năng điều chỉnh góc nghiêng, chiều cao của màn hình.

- Phục vụ nhu cầu kinh doanh/chuyên nghiệp: Các màn hình loại này thường bao gồm tính năng hiển thị nhiều chế độ, khả năng tiết kiệm năng lượng thích nghi với từng môi trường làm việc. Các mô hình phục vụ đồ họa thường mang trên mình công nghệ In-Plane Switching (IPS), đáp ứng các nhu cầu đồ họa chuyên nghiệp đòi hỏi độ chính xác về màu sắc. Nếu đáp ứng nhu cầu kinh doanh sẽ được thiết kế với một đế đứng có thể điều chỉnh góc nhìn cho thoải mái như quay góc 90 độ để xem ở chế độ chân dung. Ngoài ra, nó còn được bảo hành với thời gian lâu hơn (thường là 3 năm) với nhiều chính sách ưu tiên đặc biệt.

- Phục vụ nhu cầu đa phương tiện: đáp ứng những nhu cầu giải trí đa phương tiện với khả năng hiển thị hình ảnh và video tốt, một hiệu năng làm việc cao và một số trường hợp còng trang bị hộp điều chỉnh TV kỹ thuật số. Các loại này được trang bị các tùy chọn kết nối đầu vào quan trọng hỗ trợ đa phương tiện bao gồm HDMI, DVI, VGA, trong khi hỗ trợ tính năng giải trí mạnh mẽ với các thành phần kết nối video và âm thanh. Chúng có ít nhất 2 cổng USB để cho phép truy cập dễ dàng vào dữ liệu lưu trữ, loa có công suất làm việc tốt với ít nhất là 2 watt hoặc tốt hơn. Ngoài ra, một số điểm quan trọng khác của loại này cũng đáng quan tâm như: đầu đọc thẻ đa định dạng, tích hợp webcam để chat video
Màn hình LCD được tích hợp webcam của Asus

- Phục vụ chơi game: Một màn hình chơi game thì lại đòi hỏi về thời gian đáp ứng nhanh chóng để hiển thị hình ảnh chuyển động tốt hơn. Những loại này thậm chí có thời gian đáp ứng nhỏ hơn 5 ms (b-w) hoặc 2 ms (g-g), cung cấp các kết nối đầu vào video kỹ thuật số với nhiều nguồn giao tiếp như Sony PS3, Xbox hay PC.

Âm thanh cũng là một phần quan trọng trong game nhập vai, do đó hãy tìm một mô hình có hệ thống loa mạnh mẽ, đặc biệt lý tưởng nếu nó được trang bị một loa trầm phụ. Một jack cắm tai nghe được gắn trên mặt hoặc mặt trước của nó cũng là một lợi thế. Nếu chơi game 3D thì bạn cần một màn hình có tỷ lệ làm tươi 120Hz (hầu hết dưới 60Hz) để tận dụng sức mạnh của Nvidia 3DVision Kit, thế hệ đồ họa kép công nghệ kết nối DVI để hiển thị các trò chơi trong không gian 3D nhờ vào một kính 3D đặc biệt.

Theo Tuoitre Online

19/8/10

10 điều nguy hiểm nhất trên Internet

Hãng bảo mật CyberDefender (Mỹ) vừa đưa ra danh sách 10 điều nguy hiểm nhất mà người dùng có thể gặp phải khi làm việc trên mạng. Dưới đây là những điều nguy hiểm và các biện pháp phòng tránh do trang công nghệ Gizmodo ghi nhận lại.


1. Sử dụng tính năng “Keep me signed in” trên các máy tính công cộng

Người dùng tuyệt đối không nên sử dụng chức năng này trên các máy tính công cộng, vì sẽ làm tăng nguy cơ rò rỉ các thông tin cá nhân quan trọng cho các tin tặc. Nếu cần phải sử dụng tính năng này, chỉ nên sử dụng trên máy tính cá nhân của mình.

Và nếu sử dụng tính năng này để đăng nhập vào các trang web như: Google, eBay, Amazon... tại các máy tính công cộng, thì phải chắc chắn rằng mình đã thoát ra hoàn toàn tài khoản của mình khi rời khỏi máy, nhằm bảo vệ sự riêng tư của cho bản thân.

2. Không cập nhật các bản vá lỗi của Windows, Java, Adobe Reader và Adobe Flash

Các phần mềm như Windows, Java, Adobe Reader và Adobe Flash luôn là những "món ăn" rất "béo bở" để các tin tặc khai thác. Cách tốt nhất để bảo vệ chính mình khi truy cập internet là thường xuyên theo dõi các bán lỗi và khắc phục ngay khi có thể.

3. Tìm kiếm những thông tin riêng tư của các nhân vật nổi tiếng, hoặc những nội dung không lành mạnh

Đây là một trong các vấn đề rất được người dùng quan tâm khi truy cập internet, chính vì thế phải thực sự thận trọng khi truy cập các tài liệu dạng này vì đa phần chúng đều chứa các Malware (mã độc) để tấn công người dùng.

Nếu cần phải kiếm những thông tin về những nhân vật nổi tiếng, chỉ nên truy cập vào các trang báo điện tử uy tín. Khi cần tìm những thông tin trên google, thay vì chỉ nhập địa chỉ tìm kiếm là www.google.com thì người dùng nên truy cập vào địa chỉ: https://www.google.com/ để được an toàn hơn, vì cách thức tìm kiếm này đã được thông qua một giao thức kết nối SSL được mã hóa.

4. Sử dụng BitTorrent để tải các phần mềm, phim ảnh và nhạc

Việc truy cập và tải các phần mềm, nhạc, phim ảnh từ các trang web chính hãng, sẽ giúp người dùng nâng cao được nhận thức của việc sử dụng phần mềm có bản quyền tốt như thế nào. Trong khi đó, nếu sử dụng giao thức torrent để tải chúng (thậm chí một số trang web cung cấp torrent hoàn toàn không mã độc) thì nguy cơ nhiễm mã độc của người dùng vẫn có khả năng xảy ra, vì bên trong một số tập tin torrent đã được tin tặc "cấy" sẵn mã độc vào bên trong.

5. Tìm kiếm phim ảnh "tươi mát"

Đa số các phim ảnh "tươi mát" có trên internet đều là miễn phí, tuy nhiên nếu người dùng chỉ sử dụng "dịch vụ" này để giải trí thì rất nguy hiểm. Nhất là những ai đang sử dụng internet trong giờ làm việc, chưa kể đến nguy cơ nhiễm phải mã độc rất cao khi truy cập vào các trang web "tươi mát".

6. Chơi game online từ các mạng xã hội ảo

CyberDefender đã ghi nhận được rất nhiều trường hợp, một số trò chơi yêu cầu người dùng khai báo các thông tin cá nhân quan trọng mới có thể chơi được, và như thế chỉ cần tin tặc nhúng một trojan vào trò chơi và dẫn dụ họ chơi cùng, thì toàn bộ các thông tin quan trọng của người dùng sẽ bị lọt vào tay tin tặc.

7. Chia sẻ quá nhiều thông tin cá nhân lên Facebook

Một số người có thói quen "chia sẻ" quá nhiều thông tin về bản thân mình lên Facebook, chẳng hạn như: ngày sinh nhật, họ tên đầy đủ, số điện thoại di động, địa chỉ nhà... Điều này thực sự rất nguy hiểm, vì các tin tặc có thể lợi dụng các thông tin này để dò mật khẩu của bạn, hoặc làm giả thẻ tín dụng từ các thông tin cá nhân do người dùng cung cấp.

8. Kết nối vào những mạng không dây không rõ nguồn gốc

Ở những nơi công cộng như: sân bay, khách sạn, nhà hàng... người dùng phải hết sức cẩn thận khi kết nối máy tính cá nhân của mình vào các mạng không dây này. Lý do là, tin tặc có thể lợi dụng việc kết nối này để lấy trộm các dữ liệu trên máy (nếu trong máy tính đang để sẵn những dữ liệu ở dạng chia sẻ).

9. Sử dụng một mật khẩu cho tất cả các tài khoản online

Một số cá nhân vì muốn "thuận tiện", nên đã đặt chung một mật khẩu cho tất các tài khoản online của mình. Điều này sẽ giúp cho người dùng không quên mật khẩu, nhưng sẽ vô cùng nguy hiểm nếu mật khẩu bị rò rỉ ra, vì tin tặc có thể nắm giữ được dữ liệu quan trọng của người dùng chỉ với một lần tấn công duy nhất.

10. Thử vận may vào các trò chơi trúng thưởng trực tuyến

Một số trang web thường đưa ra các hình thức bốc thăm trúng thưởng, tham dự trò chơi trực tuyến với những phần quà hấp dẫn như: iPad, iPhone, PlayStation 3,... Tuy nhiên, nếu không cảnh giác người dùng sẽ bị "tiền mất, tật mang" khi lỡ đưa trước một số tiền để tham dự, hoặc cung cấp cả các thông tin cá nhân của mình vào.

Theo báo Thanh niên online

25/1/10

Cần người lớn bên cạnh

Chu trình tư duy của trẻ không tự nhiên hình thành mà phải có sự hỗ trợ của người lớn.

Trong xã hội chúng ta hiện nay phổ biến một thành kiến cho rằng trò chơi điện tử nguy hiểm cho sự phát triển thể chất và tinh thần của người chơi nói chung, và trẻ em nói riêng: ảnh hưởng đến mắt, có thể gây béo phì, đầu óc mất tập trung, học hành sa sút, gia tăng tính hung hãn, thu hẹp các mối quan tâm, làm nghèo nàn kinh nghiệm tình cảm và quan hệ xã hội, thậm chí gây nghiện… Tranh luận về được mất, hay dở, công tội của trò chơi điện tử có thể kéo dài bất tận. Trong khi báo chí, các phương tiện truyền thông chủ yếu lên án, tìm các biện pháp ngăn cấm, giới hạn thì các nhà chuyên môn, gồm các chuyên gia tâm lí, giáo dục, lại khá thận trọng khi phát biểu về lợi hại của trò chơi điện tử, và các phát biểu này không bao giờ là một chiều. Điều đáng nói nhất là bản thân những trò chơi này không tốt hay xấu, không có những tính chất có hại hay có lợi. Vấn đề nằm ở chỗ ai chơi và chơi như thế nào. Điều này tương tự như việc chúng ta nhà nào cũng cần có dao, có diêm (quẹt) và để trẻ không bị đứt tay, không làm cháy nhà, cha mẹ, người lớn cần phải dạy chúng cách sử dụng những công cụ này.

Với sự tiến bộ của công nghệ và những nghiên cứu về tác dụng giáo dục, tác dụng hỗ trợ quá trình học tập, nhiều nhà thiết kế game đã tận dụng được mặt hấp dẫn (về hình ảnh, âm thanh, tính động...), tận dụng yếu tố chơi để kết hợp với tác động giáo dục nhằm sáng tạo những trò chơi giúp trẻ học nhẹ nhàng, thú vị hơn. Trò chơi điện tử cho tuổi nhi đồng hầu hết là mang tính hỗ trợ phát triển kĩ năng và giải trí. Những trò chơi mang tính giáo dục này ngày càng trở nên phổ biến và là công cụ hỗ trợ đắc lực giúp trẻ mở rộng vốn kinh nghiệm, tìm hiểu về thế giới xung quanh, phát triển các kĩ năng nhận thức. Có nhiều loại trò chơi được thiết kế riêng cho mục đích học tập. Đó là những trò chơi dạy trẻ các môn học riêng biệt như ngôn ngữ, toán, xây dựng quan hệ xã hội, tìm hiểu khoa học, giải quyết vấn đề, tư duy nhận xét, đánh giá, và bảo vệ môi trường.

Nhìn nhận một cách khách quan, chúng ta có thể sử dụng những trò chơi điện tử để dạy trẻ em nhiều điều:

- Phát triển cơ tinh (các cơ nhỏ điều khiển những cử động đòi hỏi sự khéo léo) của bàn tay thông qua việc điều khiển chuột và bàn phím. Những thao tác khéo léo của bàn tay lại ảnh hưởng tốt đến hệ thần kinh trung ương. Trong khi chơi, trẻ tập phối hợp tín hiệu hình ảnh với các xung động cơ để phản xạ nhanh và chính xác khi điều khiển con trỏ. Nhờ đó, tốc độ phản xạ thị giác và phản xạ cơ đều được cải thiện, trí nhớ thị giác, khả năng suy luận, dự đoán đều được rèn luyện. Khi thao tác với chuột và quan sát hiệu ứng trên màn hình, trẻ tập luyện các cơ ngón tay, luyện tập phối hợp tay - mắt. Trẻ cũng học nhận biết ý nghĩa của một số biểu tượng trong các menu máy tính, học cách điều khiển các đối tượng trên màn hình.

- Nhiều trò chơi điện tử có tác dụng kích thích sự phát triển nhận thức, khuyến khích trẻ sáng tạo, tư duy phê phán; tạo ra nhiều cơ hội cho trẻ tập đánh giá, phỏng đoán, giải quyết vấn đề, tưởng tượng, thiết kế, thúc đẩy quá trình làm quen với chữ số, chữ cái và các kỹ năng toán - logic. Nhờ sự kết hợp đa dạng giữa màu sắc, âm thanh, chuyển động, trò chơi tác động đồng thời đến nhiều giác quan do đó đạt được hiệu quả cao cả về mặt hấp dẫn lẫn hiệu quả luyện tập kĩ năng. Trò chơi tạo ra rất nhiều cơ hội để trẻ trực tiếp tự khám phá, tự phát hiện đúng - sai. Ví dụ: Kỹ năng đếm, nhận mặt chữ số, nhận mặt chữ cái, phân loại được lặp đi lặp lại trong các tình huống khác nhau nên trẻ có cảm giác được chơi các trò khác nhau nhưng kĩ năng thực hiện là một. Những kỹ năng nhận thức được hình thành theo cách này sẽ rất bền vững và trẻ có thể dễ dàng vận dụng chúng vào các hoàn cảnh, tình huống khác trong thực tế.

- Phát triển kỹ năng giao tiếp. Nhu cầu khám phá trò chơi thúc đẩy trẻ giao tiếp, chỉ bảo nhau, chia sẻ các ý tưởng về cách thực hiện với nhau, cả về kỹ thuật chơi lẫn những hiểu biết cần thiết để chơi. Như vậy trẻ tự học lẫn nhau: trẻ chưa biết học từ trẻ biết rồi, trẻ biết điều này học được từ bạn mình điều khác, trẻ biết rồi củng cố lại hiểu biết và kỹ năng của mình khi chỉ lại cho bạn cách chơi.

- Phát triển cảm xúc và xây dựng quan hệ xã hội. Tham gia vào các trò chơi dưới dạng chơi nhóm trẻ học được các cách ứng xử như thoả thuận, nhường nhịn, cộng tác, phân công, chờ đợi đến lượt mình, tôn trọng quy định... Dần dần trẻ trở nên tự chủ, tự tin và độc lập trong việc khám phá các trò chơi mới, chủ động điều chỉnh hành vi của mình và của nhóm chơi, hoàn thiện kỹ năng làm việc trong nhóm.

Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng những ưu thế này của trò chơi điện tử chỉ có thể biến thành hiện thực khi người lớn chú ý quan sát trẻ chơi, kịp thời đánh giá các tình huống nảy sinh, khuyến khích các biểu hiện tích cực và ngăn chặn những hành vi tiêu cực. Thả mặc cho trẻ tự xoay xở với trò chơi trên máy hay yêu cầu trẻ nhất nhất tuân theo hướng dẫn cụ thể từng thao tác đều có thể dẫn đến kết quả không mong đợi. Cùng chơi với trẻ, người lớn mới giúp trẻ nhận ra các quy luật nhân quả, phương pháp giải quyết vấn đề bằng cách thử và sai để tìm đến kết quả đúng. Đây là một kỹ năng quan trọng giúp trẻ thêm năng động trong các hoạt động khám phá, nên người lớn phải đặc biệt chú ý để kịp thời hỗ trợ, vì nếu trẻ chỉ thực hiện các thao tác chơi một cách máy móc, không để ý đến ý nghĩa của chúng thì trẻ cũng sẽ không hiểu được logic của trò chơi và như vậy trò chơi không đạt được mục đích học. Ví dụ: những trò chơi với các hình hình học không đơn giản chỉ là giúp trẻ nhận biết, gọi tên các hình hình học, mà còn giúp trẻ vận dụng các hình hình học ở các vị trí khác nhau để sáng tạo ra các mẫu thiết kế đa dạng. Hay những trò chơi yêu cầu trẻ sắp xếp đồ vật vào nhóm theo nhiều cách khác nhau (phân loại theo các thuộc tính khác nhau) không chỉ là nhằm tập luyện kỹ năng phân loại đơn giản mà còn tập cho trẻ nhìn nhận sự việc, sự vật dưới các góc cạnh khác nhau. Kỹ năng này được nâng cao thêm khi trẻ tập phân loại theo hai hoặc nhiều hơn hai thuộc tính. Đây chính là nền tảng của việc hình thành tư duy đa chiều, linh hoạt và sáng tạo.

Kinh nghiệm của các chuyên gia giáo dục Nhật Bản cho thấy khi chơi với các thiết bị đa phương tiện như máy tính thì trẻ thường phát triển theo chu trình như sau:

1. Trẻ NHÌN THẤY, XEM và thấy thích thú, bị lôi cuốn bởi hình ảnh, âm thanh sống động.

2. Trẻ thấy thích thú và nảy sinh động cơ BẮT CHƯỚC.

3. Khi ngồi vào chơi trẻ bắt đầu thực hiện “thử và sai” – nảy sinh nhu cầu SUY NGHĨ (TƯ DUY).

4. Khi thực hiện được, trẻ nảy sinh nhu cầu trao đổi với bạn, với người chơi khác, THỂ HIỆN ý tưởng và suy nghĩ của mình, giải thích những ý đồ và sản phẩm sáng tạo.

5. Kể về những điều mình học được cho người khác sẽ giúp trẻ củng cố và PHÁT TRIỂN tiếp tục những hiểu biết cũng như kỹ năng của mình.

6. Ở mức độ phát triển mới trẻ lại thấy thích thú với những hiện tượng mới, nảy sinh những thắc mắc mới, và cứ thế một chu trình mới lại bắt đầu, nhưng ở mức cao hơn.

Tuy nhiên để đạt được chu trình phát triển này, các nhà giáo dục Nhật bản cũng nhấn mạnh đến vai trò của người lớn và mối quan hệ giữa trẻ với người lớn xung quanh khi trẻ chơi với máy tính. Chu trình tư duy nêu trên không tự nhiên hình thành mà phải có sự hỗ trợ của người lớn. Nếu để trẻ tự chơi tự do, rất có thể trò chơi của trẻ chỉ giới hạn ở mức độ là trẻ biết làm theo các chỉ dẫn của máy. Do đó, việc trao đổi, thảo luận về những điều trẻ phát hiện ra, tạo ra môi trường giúp trẻ ứng dụng những điều đó vào các tình huống học và chơi hàng ngày là rất quan trọng và cần thiết. Đồng thời cũng cần hiểu rõ đặc điểm quá trình phát triển và quá trình tư duy của trẻ, bao gồm cả năng lực học khái niệm mới, và năng lực sáng tạo (tức là sử dụng các khái niệm đã học được để sáng tạo và đổi mới) để lựa chọn những trò chơi cân bằng giữa mục đích giải trí với mục đích giáo dục, bảo đảm tính hấp dẫn nhưng vẫn bảo đảm tính mới, tính phát triển, để chơi game là một hoạt động bổ ích – vừa giải trí vừa học một cách thú vị.

Nguyễn Thị Thanh Thủy
Thạc sĩ Giáo dục Học

Nguồn: http://www.pcworld.com.vn/pcworld/magazine_gm.asp?t=mzdetail&atcl_id=5F5E5D5856595B

13/1/10

Lynda.com - jQuery Essential Training



In jQuery Essential Training, Microsoft professional Joe Marini presents the power of the jQuery library, an open-source JavaScript project that greatly simplifies the process of adding advanced functionality to web sites. Joe teaches how to use these new features to build pages that work across browsers with the functionality that today's users (and clients) are looking for, from complex animation effects to dynamic page formatting. Joe pulls all of this together, showing how the jQuery UI plug-in can expand and streamline the capability of jQuery, and then integrating jQuery design tools into a complete sample web site. Exercise files accompany the course.

Information
http://www.lynda.com/home/DisplayCourse.aspx?lpk2=48370


Download
From Rapidshare

http://rapidshare.com/files/275030302/Lynda.com_-_jQuery_Essential_Training.part1.rar
http://rapidshare.com/files/275029421/Lynda.com_-_jQuery_Essential_Training.part2.rar
http://rapidshare.com/files/275043174/Lynda.com_-_jQuery_Essential_Training.part3.rar
http://rapidshare.com/files/275040014/Lynda.com_-_jQuery_Essential_Training.part4.rar


From Mediafire

http://www.mediafire.com/?jtgdmjww4ln
http://www.mediafire.com/?yc2kqyijm3z
http://www.mediafire.com/?vkdtix5udoy
http://www.mediafire.com/?nnhkumxnnoo


Nguồn: http://www.softvnn.com/forum/showthread.php?t=172107

7/1/10

Một số thông tin cơ bản về các Hosting Controller



1. Cpanel
- Link đăng nhập trang quản trị của Cpanel
+ http://địa_chỉ_ip/Cpanel
+ http://tên_miền/cpanel
+ http://địa_chỉ_ip:2082/
+ http://tên_miền:2082/

- Link đăng nhập vào Cpanel WHM
+ http://địa_chỉ_ip:2086/
+ http://tên_miền:2086/

- Cách nhận biết trang web sử dụng Cpanel:
Nếu các bạn thấy path là: /home/tên_user/public_html/ thì 95% đó là Cpanel.

2. Parallels Plesk
- Link đăng nhập trang quản trị của Plesk
+ http://địa_chỉ_ip:8443/
+ http://tên_miền:8443/

- Cách nhận biết trang web sử dụng Plesk:
Nếu các bạn thấy path là: /var/www/vhost/ thì 95% đó là Plesk.

3.DirectAdmin
- Link đăng nhập trang quản trị của DirectAdmin
+ http://địa_chỉ_ip:2222/
+ http://tên_miền:2222/

- Cách nhận biết trang web sử dụng DirectAdmin:
Nếu các bạn thấy path là: /home/webxxxxxx/domains/tên_miền/public_html/ thì chắc chắn đó là DirectAdmin.

Nguồn: Internet

4/1/10

10 công nghệ có ảnh hưởng nhất


Chú trọng đến tiềm năng dài hạn thay vì nổi đình nổi đám, các công nghệ mới được chọn có thể chưa phổ biến nhưng có tầm ảnh hưởng lớn, có khả năng giúp giảm chi phí, thay đổi cách chúng ta làm việc và mở ra những chân trời mới.

10. Lập danh sách trắng

Việc đuổi theo dữ liệu nhận dạng virus đang trở nên bất cập. Ví dụ, trong năm 2008 Symantec đã đưa ra dữ liệu nhận dạng virus nhiều hơn dữ liệu mà hãng đã đưa ra trong 17 năm trước đó. Không chỉ virus, sâu và mã độc ngày càng nhiều hơn, mà số có khả năng biến dạng hay tự che đậy dùng kỹ thuật mã hóa để tránh bị phát hiện cũng tăng. Giải pháp lập danh sách trắng chọn hướng tiếp cận dựa trên các quy tắc an toàn tạo sẵn.

Giải pháp lập danh sách trắng (hay danh sách an toàn - whitelisting) tạo ảnh hệ thống máy tính hay máy chủ sạch (không có phần mềm mã độc), sau đó chạy phần mềm chuyên dụng để nhận diện các file một cách duy nhất dùng một hay nhiều hàm băm mã hóa. Kể từ đó, trình giám sát trên các hệ thống được quản lý sẽ bật cờ cảnh báo khi xuất hiện chương trình nào đó không có trong danh sách băm (hash) hoặc ngăn không cho thực thi. Đa phần các máy tính trong doanh nghiệp có chung một ảnh hệ thống chuẩn, vì vậy việc lập danh sách trắng có thể là một giải pháp hết sức hiệu quả để khóa chặn an toàn.

Một số phần mềm lập danh sách trắng có thể nhận diện và chặn nhiều loại file chứ không chỉ file thực thi, bao gồm các script (mã lệnh kịch bản) và macro, thậm chí có thể bảo vệ chống ghi file văn bản hay file cấu hình. Tính năng sau hữu ích cho việc ghi nhận những thay đổi không được phép, chẳng hạn như các thay đổi mà nhiều malware thực hiện với file Host.

Việc lập danh sách trắng yêu cầu thay đổi văn hóa sử dụng máy tính. Trong nhiều doanh nghiệp hiện nay, người dùng vẫn còn có quyền nào đó với phần mềm mà họ chạy trên máy tính để bàn hay MTXT của riêng mình. Nhưng do các phần mềm mã độc mới tăng chóng mặt và ngày càng xảo quyệt, và sự tham gia ngày càng nhiều của các tổ chức tội phạm trong các cuộc tấn công, việc lập danh sách trắng có lẽ là vũ khí thích hợp nhất cho trận chiến bảo mật khó khăn.

9. Phát triển ứng dụng di động đa hệ

Cơn sốt iPhone đã mang nhiều việc đến cho các lập trình viên ngoài sự thôi thúc mô phỏng các chức năng bên ngoài với những ứng dụng như iFart. Kỹ năng đảm bảo nhất là thành thạo Objective C, một ngôn ngữ được giới thiệu đầu tiên với máy tính NeXT của Steve Jobs vào năm 1988.

Nếu bạn là lập trình viên Java, việc học Objective C đồng nghĩa phải học cách tự quản lý bộ nhớ. Nếu là dân JavaScript, bạn phải “nuốt trôi” khái niệm trình biên dịch. Không có chọn lựa nào khác nếu bạn muốn viết ứng dụng có thể được hàng triệu người dùng iPhone tải về.

Tuy nhiên, thời mà iPhone là cuộc chơi hấp dẫn duy nhất nhanh chóng qua đi khi các nhà phát triển tìm kiếm sự cạnh tranh. Các điện thoại Android và BlackBerry dùng ngôn ngữ Java. Symbian OS của Nokia chạy nhiều ngôn ngữ, bao gồm nhiều phiên bản C và C++. Số đông nhà phát triển quan sát “món lẩu” này và nhìn thấy một điểm chung: tất cả điện thoại đều có trình duyệt web sử dụng cùng ngôn ngữ HTML, JavaScript và CSS - các ngôn ngữ mà mọi nhà phát triển web đều biết (và nhiều nhà phát triển khác cũng biết).

Một số bộ công cụ phát triển còn vượt qua trình duyệt, cho phép truy cập đến thư viện hàm bên dưới. Titanium Architecture của Appcelerator, PhoneGap của Nitobi và LiquidGear của PhoneGap tạo ra ứng dụng mà bề ngoài trông như được viết bằng ngôn ngữ máy, nhưng thực chất dựa trên trình duyệt nhúng có thể chạy trên các nền tảng phổ biến. Phần lớn tác vụ quan trọng được viết bằng JavaScript chạy trong trình duyệt nhúng. Ứng dụng này có thể truy cập gia tốc kế và GPS mặc dù chỉ dùng JavaScript.

Những công cụ khác dùng những ngôn ngữ phổ biến như Ruby. Chẳng hạn, Rhomobile nhúng trình biên dịch Ruby và máy chủ web hoàn chỉnh trong ứng dụng để bạn có thể viết mọi thứ bằng Ruby, giống như xây dựng một website bằng Ruby. Ứng dụng này có thể cũng chạy trên các nền tảng phổ biến.

Tất cả các giải pháp trên tốt đáng kinh ngạc – nếu bạn không kỳ vọng tốc độ cực nhanh hay sự hoàn hảo. Các nhà phát triển game có thể dùng gia tốc kế với ứng dụng dạng này, nhưng chỉ để xây dựng các game 2D đơn giản không đòi hỏi truy cập đến các lớp sâu bên dưới của phần cứng video. Có một vấn đề đó là phông chữ (font) và bố cục giao diện đôi khi hơi khác nhau giữa các nền tảng. Nhưng nếu các yêu cầu đơn giản và bạn đã biết các ngôn ngữ phát triển web, các giải pháp này dễ hơn nhiều so với việc học Objective C.

Đối với doanh nghiệp, việc phát triển ứng dụng đa hệ khắc phục được một rào cản trong việc phát triển và triển khai ứng dụng di động dùng trong nội bộ: Khó bắt buộc nhân viên sử dụng cùng một loại smartphone, và ngay cả khi có thể bắt buộc, việc lập trình các ứng dụng cho một nền tảng cụ thể làm doanh nghiệp bị mắc kẹt. Với việc phát triển ứng dụng đa hệ, bạn có thể viết một lần – mà không phải biết những kiến trúc của một nền tảng cụ thể - và chạy nó trên nhiều thiết bị. Vậy là việc triển khai rộng rãi các ứng dụng doanh nghiệp di động có thể trở thành hiện thực.

8. Tiết kiệm điện cho phần cứng

Tất cả chúng ta đều biết câu “khẩu hiệu”: Cứu hành tinh và tiết kiệm tiền bằng cách giảm tiêu thụ điện. Các công nghệ để thực hiện mục tiêu kép đó đã tìm ra cách đi vào các máy chủ, máy tính để bàn và các phần cứng khác, nhưng trong một số trường hợp, những lợi ích chỉ có được khi có phần mềm hỗ trợ.

Các bộ nguồn hiệu quả hơn cùng với ổ đĩa cứng có khả năng giảm tốc độ quay hay tự tắt khi không dùng đến đang trở nên phổ biến. Nhưng để đưa các nhân và bo mạch chủ không hoạt động hay các thành phần khác sang trạng thái “ngủ”, các bộ xử lý (BXL) đa nhân nói chung cần nhận được lệnh từ cấp hệ điều hành hay ứng dụng.

Bộ nguồn là phương tiện đơn giản nhất để tiết kiệm điện. Nó không cần phần mềm hỗ trợ và thực hiện tiết kiệm kép: Tiêu thụ ít điện năng khi chuyển đổi AC sang DC và sinh ra ít nhiệt – giúp giảm điện năng cần để làm lạnh. Chương trình chứng chỉ 80 Plus, được tài trợ bởi liên minh nhiều công ty điện, khuyến khích các nhà sản xuất tạo ra các bộ nguồn đạt hiệu suất ít nhất 80%, một bước tiến so với các bộ nguồn cũ chỉ đạt dưới 50% - nghĩa là chỉ 50% năng lượng đi đến bo mạch chủ, 50% còn lại thường phung phí dưới dạng nhiệt.

Nhiều hãng sản xuất thiết bị lưu trữ đưa ra các ổ đĩa có thể quay chậm lại hay tắt nguồn khi không dùng đến. Hầu hết các hệ thống được bán ra hiện nay chỉ giới hạn ở tính năng làm ổ đĩa quay chậm đi, vì thời gian cần để kích hoạt hay tắt ổ đĩa dài hơn thời gian cho phép của hầu hết ứng dụng. Nói chung có 3 mức: Chậm, chậm hơn và dừng hẳn, mức sau tiết kiệm điện nhiều hơn và yêu cầu nhiều thời gian hơn để trở lại tính năng đầy đủ. Trạng thái đầu có thể hồi phục trong 1-2 giây và trạng thái thứ 2 dưới 30 giây, trong khi hồi phục từ trạng thái tắt nguồn có thể mất đến 2 phút. Trạng thái sau cùng gây vấn đề với hầu hết ứng dụng, vì vậy hầu hết các hãng không dùng.

Các BXL mới nhất cho phép “dừng” nhân, tắt nguồn các nhân không cần đến khi làm việc ít. Tính năng này được hỗ trợ trong Windows 7 và Windows Server 2008 R2. Nó rất có ích trong các server không hoạt động liên tục hay ít dùng ngoài giờ làm việc. BXL 2, 4, 6 hay 8 nhân có thể tắt hết, trừ một nhân để phục vụ các yêu cầu, nếu tải trên một nhân vượt quá giới hạn định trước thì BXL sẽ trở về trạng thái hoạt động đầy đủ.

Các bo mạch chủ và thiết bị gắn thêm như card mạng cũng đang được bổ sung khả năng tắt nguồn các thành phần khi không dùng đến. Ví dụ, một số bo mạch chủ, đặc biệt trên các MTXT, hỗ trợ 2 hệ thống video: Một tích hợp trên bo mạch chủ và một card rời. Thành phần tích hợp tiêu thụ ít điện năng hơn, trong khi card rời cho hiệu suất cao hơn. Bo mạch chủ có thể chuyển qua lại giữa 2 hệ thống video khi cần thiết để tiết kiệm điện hoặc đạt hiệu suất cao.

Card mạng có thể tắt nguồn khi không dùng mạng, và các thành phần khác cũng được bổ sung tính năng tương tự. Tuy nhiên các tính năng này chỉ phát huy tác dụng khi được hệ điều hành và, trong một số trường hợp, các ứng dụng riêng biệt hỗ trợ. Có card mạng có thể tự tắt nguồn thì thật tuyệt, nhưng bạn cần hệ điều hành có thể kích hoạt nó hoạt động trở lại.

7. Chip đa nhân

Các nhà sản xuất bộ xử lý (BXL) đã đụng bức tường tốc độ đồng hồ. Mỗi xung nhịp đồng hồ tăng thêm đều yêu cầu thêm nhiều điện năng.

Vì vậy các nhà sản xuất đã chuyển từ xa lộ một làn sang cao tốc nhiều làn – nghĩa là, từ một nhân tốc độ cao thành nhiều nhân tốc độ thấp hơn nhưng có khả năng thực thi song song. Tốc độ vượt ngưỡng không còn “thiêng” trong thế giới điện toán. Thay vì vậy, giờ là hiệu suất tổng.

Các chip đa nhân tiêu thụ ít điện năng hơn, sinh ra ít nhiệt hơn nhưng vẫn hoàn tất công việc hiệu quả. Trên server, đây chính là điều mà giới CNTT muốn. Ví dụ, hiện nay một BXL Intel Nehalem có 4 nhân, mỗi nhân có thể chạy 2 luồng đồng thời, vì vậy hệ thống 4 BXL (không đắt lắm) có thể chạy 32 luồng đồng thời. Cách đây 5 năm, chỉ có mainframe và server cao cấp mới có khả năng đó.

Chip đa nhân có ít ảnh hưởng hơn trên môi trường máy tính để bàn, do thiếu các ứng dụng có thể khai thác tốt các tài nguyên một cách song song, chưa kể thiếu các lập trình viên có kỹ năng viết phần mềm trên máy tính để bàn chạy đa luồng. Tuy nhiên điều đó đang thay đổi, đặc biệt trong các ứng dụng máy trạm và ứng dụng đồ họa chuyên nghiệp.

Thập niên tới sẽ chứng kiến sự bùng nổ nhân trong các chip xử lý. Kỷ nguyên hiện nay được phong là “nhiều nhân” (một thuật ngữ ám chỉ nhiều hơn 8 nhân) sắp bước qua. Mới đây Intel đã giới thiệu mẫu chip đang phát triển thuộc dự án Tera-scale chứa đến 80 nhân có khả năng xử lý một teraflop (một ngàn tỷ phép tính mỗi giây) chỉ dùng 62 watt. (Lưu ý, một hệ thống có khả năng xử lý 18 teraflop đủ tiêu chuẩn đứng trong danh sách Top 500 siêu máy tính).

Các nhà sản xuất BXL khác họ x86 cũng tham gia cuộc đua. Ví dụ, hãng Tilera hiện có chip 16 nhân và sắp tung ra “quái vật” 100 nhân vào năm 2010. Giới CNTT sẽ làm gì với nhiều nhân như vậy? Trong trường hợp Tilera, các chip này được dùng trong thiết bị hội nghị video cho phép phát nhiều luồng video đồng thời với chất lượng HD. Với Intel, nhiều nhân cho phép công ty thực hiện các dạng tính toán mới trên một BXL, như thực hiện đồ họa ngay trong CPU. Trên server, nhiều nhân sẽ cho khả năng mở rộng cực lớn và cung cấp các nền tảng có thể dễ dàng chạy hàng trăm máy ảo với tốc độ cao.

Rõ ràng kỷ nguyên nhiều nhân – mà chắc chắn sẽ phát triển lên kỷ nguyên ngàn và triệu nhân – sẽ cho phép chúng ta thực hiện các tác vụ quy mô lớn dễ dàng và ít tốn kém, đồng thời cho phép siêu tính toán trên các máy tính không đắt tiền.

6. Ổ cứng thể rắn (SSD)

SSD (Solid-State Drive) đã có cả chục năm nay, nhưng mãi đến gần đây chúng ta mới chứng kiến sự bùng nổ các sản phẩm mới và sự giảm giá dữ dội. Trước đây, ổ SSD chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tốc độ thật cao. Hiện nay SSD được sử dụng rộng rãi hơn, dùng như bộ nhớ đệm bên ngoài để cải thiện tốc độ cho nhiều ứng dụng. Ổ SSD vẫn còn mắc hơn ổ đĩa thường nhiều, nhưng rẻ hơn bộ nhớ bên trong máy chủ.

So với ổ cứng, SSD không chỉ nhanh hơn cả về tốc độ đọc và ghi (không hẳn đúng với mọi loại SSD) mà còn cho tốc độ truyền nhanh hơn và tiêu thụ điện ít hơn. Tuy nhiên SSD có giới hạn về tuổi thọ, mỗi ô nhớ trong SSD chỉ có thể ghi một số lần hạn chế.

Có 2 loại SSD: Ô nhớ 1 cấp (SLC - single-level cell) và ô nhớ nhiều cấp (MLC - multilevel cell). Loại SLC nhanh hơn loại MLC và có tuổi thọ lớn hơn 10 lần (và giá mắc hơn nhiều). Kéo dài khả năng ghi từng là rào cản lớn với các ổ SSD, nhưng nhờ tăng các đặc tính kỹ thuật và sử dụng thông minh hơn bộ nhớ đệm DRAM tích hợp bên trong làm cho giải pháp đáng giá này hấp dẫn hơn. Một số nhà sản xuất tăng tuổi thọ cho ổ SSD bằng cách thêm dung lượng – nghĩa là dung lượng thực lớn hơn dung lượng công bố, và dùng thuật toán phân rải dữ liệu trên các ô nhớ thêm.

Nhưng vấn đề hấp dẫn nhất là giá. Giá ổ SSD 32GB đã giảm khoảng 10 lần trong 5 năm qua, dù vậy vẫn còn đắt gấp 46 lần so với ổ SATA tính trên mỗi gigabyte. Khi các giải pháp mới cho vấn đề tuổi thọ đi từ phòng thí nghiệm ra thị trường, việc sử dụng SSD hứa hẹn sẽ phổ biến hơn.

5. Cơ sở dữ liệu phi SQL

Dữ liệu giờ đây hiện diện khắp nơi. Và thời đại mà “SQL” và “cơ sở dữ liệu” (CSDL) có thể dùng lẫn lộn sắp qua, một phần vì các CSDL quan hệ kiểu cũ “hụt hơi” trước sự tràn ngập dữ liệu từ các ứng dụng web 2.0.
Các website “hot” đang tạo ra hàng terabyte (ngàn gigabyte) dữ liệu ít theo dạng hàng và cột số như từ phòng kế toán. Thay vì vậy, chi tiết lưu lượng được lưu trữ trong các file “trơn” và được phân tích tự động theo lịch lúc đêm khuya.

Để “thọc” vào dữ liệu này cần có phương thức tìm kiếm và đối chiếu dữ liệu, CSDL quan hệ có thể làm được việc này nhưng nó quá cồng kềnh với các cơ chế đảm bảo tính nhất quán dữ liệu ngay cả trong những tình huống xấu nhất.
Tất nhiên, nếu đầu tư đủ công sức, bạn có thể làm cho mọi thứ phù hợp với CSDL quan hệ, nhưng điều đó có nghĩa bạn phải trả giá cho tất cả các cơ chế khóa và hồi phục phức tạp được phát triển cho bộ phận kế toán để theo dõi dòng tiền. Trừ phi vấn đề đòi hỏi tất cả tính năng của một CSDL hàng đầu, còn thì không cần đầu tư quá mức như vậy, nếu không bạn phải chấp nhận hệ quả hiệu suất của nó.

Giải pháp? Nới lỏng các ràng buộc và đi theo cách tiếp cận mới: NoSQL. CSDL NoSQL cơ bản là các cặp khóa/giá trị đơn giản kết hợp với nhau thành một khóa với một lô thuộc tính. Không hề có bảng đầy các cột trống và không có vấn đề thêm các giá trị hay khóa đặc biệt mới cho mỗi mục. Tính năng “giao dịch” (transaction) có thể có hoặc không.

Hiện có các giải pháp NoSQL như Project Voldermort, Cassandra, Dynamite, HBASE, Hypertable, CouchDB và MongoDB, và ngày càng xuất hiện nhiều hơn. Mỗi giải pháp dùng cách thức hơi khác nhau để truy xuất dữ liệu. Chẳng hạn, CouchDB cho bạn viết truy vấn như hàm JavaScript. MongoDB có tính năng phân mảnh – CSDL lớn được phân thành từng mảnh nằm trên nhiều server.

Cặp khóa/giá trị đơn giản chỉ là mở đầu. Chẳng hạn, Neo4J cung cấp CSDL đồ thị dùng câu truy vấn thật ra là thủ tục để tìm khắp mạng. Cốt lõi vấn đề là chỉ giữ các tính năng cần thiết, bỏ những tính năng không cần.

Tất cả giải pháp trên là nỗ lực mới nhất nhằm tìm lại tốc độ mà có thể có được bằng cách nới lỏng các yêu cầu. Hy vọng sẽ có một kỷ nguyên xử lý dữ liệu mới không giống như những gì chúng ta biết trước đây.

4. Ảo hóa nhập/xuất


Ảo hóa ngõ nhập/xuất (Input/Output) giải quyết một vấn đề gây trở ngại cho các máy chủ chạy phần mềm ảo hóa như VMware hay Microsoft Hyper-V. Khi có nhiều máy ảo chạy trên một server, ngõ nhập/xuất trở thành nút thắt cổ chai, cả cho việc liên lạc máy ảo với mạng và kết nối các máy ảo với thiết bị lưu trữ bên dưới. Ảo hóa I/O không chỉ làm cho việc cấp phát băng thông khắp các máy ảo trên một server dễ dàng hơn, mà còn mở đường cho việc quản lý động các kết nối giữa các server vật lý và các thiết bị lưu trữ.

Chúng ta hãy bắt đầu với một server. Ví dụ, VMware khuyến cáo cấp phát một cổng Ethernet gigabit cho mỗi máy ảo. Một server chạy 16 máy ảo vì vậy sẽ cần 4 card mạng Ethernet gigabit 4 cổng, cộng với các card mạng (iSCSI, SCSI hay Fibre Channel) bổ sung cho thiết bị lưu trữ. Nhiều server không có đủ khe cắm cho nhiều card như vậy, ngay cả khi có đủ khả năng làm mát. Và nhiều khi mỗi máy chủ có hơn 16 máy ảo, lưu ý, các server dùng BXL Intel và AMD hiện nay thường có từ 8 đến 24 nhân với hàng trăm gigabyte bộ nhớ. Mức độ tích hợp có thể còn cao hơn.

Để giải quyết vấn đề, các hãng cung cấp giải pháp ảo hóa I/O như Xsigo và Cisco đã đi đến giải pháp dùng một kết nối tốc độ cao thay vì nhiều kết nối Ethernet và Fibre Channel. Một card mạng cho mỗi server khi đó có thể cung cấp nhiều kết nối ảo. Card mạng có thể là card Ethernet hay Infiband 10 gigabit chuẩn có trình điều khiển chạy trên HĐH hỗ trợ xử lý một kết nối tốc độ cao như nhiều kết nối. Vì sử dụng chung một đường kết nối (thật), hệ thống có thể cấp băng thông cho các kết nối ảo theo nhu cầu, cung cấp hiệu suất tối đa.

Tiêu biểu, mỗi server có một card mạng, một sợi cáp nối đến thiết bị (như chuyển mạch) cung cấp cổng kết nối đến cả thiết bị lưu trữ và các mạng khác. Giải pháp này giúp đơn giản hóa việc đi cáp trung tâm dữ liệu, cũng như việc cài đặt từng server. Nó cũng làm dễ dàng tác vụ chuyển card mạng đến hệ thống khác nếu server bị lỗi. Trong các giải pháp như Cisco UCS, ảo hóa I/O cho phép việc cung ứng, định lại mục đích và chống lỗi server cực kỳ linh hoạt và có thể tự động hoàn toàn, vì nó được kiểm soát hoàn toàn bằng phần mềm. Hơn nữa, vì hệ thống ảo hóa I/O có thể thiết lập nhiều kết nối Ethernet hoặc Fibre Channel chạy ở nhiều tốc độ khác nhau, băng thông thích hợp có thể được dành cho các yêu cầu di dời máy ảo hay công việc “nặng tải” khác.

Việc ảo hóa I/O yêu cầu trình điều khiển (driver) hỗ trợ HĐH. Các HĐH và nền tảng ảo hóa phổ biến được hỗ trợ, gồm VMware ESX và Windows 2008 Hyper-V, một số phiên bản Linux và Xen hay các nền tảng ảo hóa nguồn mở khác. Nếu bạn dùng HĐH được hỗ trợ, giải pháp ảo hóa I/O có thể giúp cho việc vận hành trung tâm dữ liệu lớn đơn giản hơn và ít tốn kém hơn nhiều, đặc biệt khi năng lực xử lý và hỗ trợ bộ nhớ tăng cho phép server kiểm soát số lượng máy ảo ngày càng lớn.

3. Khử dữ liệu trùng

Dữ liệu là yếu tố quyết định đến sự thành công của mọi doanh nghiệp. Vấn đề là làm gì với dữ liệu. Theo IDC, dữ liệu trong doanh nghiệp tăng gấp đôi mỗi 18 tháng, tạo sức ép lên các hệ thống lưu trữ. Nguyên nhân của việc phình to này thường bị đổ cho các quy định lưu trữ tài liệu. Nhưng đáng kể hơn đó là không có ngày hết hạn. Việc phân tích dữ liệu trong nhiều năm (đã qua) cho phép phát hiện các xu hướng, tạo các dự báo, dự đoán hành vi khách hàng và nhiều thứ khác.

Chắc chắn phải có cách giảm dung lượng lưu trữ khổng lồ của tất cả dữ liệu mà không hy sinh thông tin hữu ích. Đó chính là công nghệ khử dữ liệu trùng.

Mọi mạng đều có hàng khối dữ liệu trùng, từ các bộ lưu cho hàng ngàn bản sao sổ tay nhân viên đến các file đính kèm giống nhau ở trên cùng máy chủ email. Ý tưởng cơ bản của việc khử trùng dữ liệu là định vị các bản sao trùng của cùng một file và loại bỏ tất cả trừ một bản gốc. Mỗi bản trùng được thay bằng “con trỏ” chỉ đến bản gốc. Khi người dùng yêu cầu file, “con trỏ” sẽ chuyển đến file gốc và người dùng không hề nhận biết sự khác biệt.

Có nhiều dạng khử trùng, từ đối chiếu file đơn giản đến cao cấp hơn là khảo sát khối dữ liệu hay byte bên trong file. Nguyên lý cơ bản, phần mềm khử trùng phân tích một mẩu dữ liệu, có thể là một chuỗi bit hay toàn bộ file. Một thuật toán xử lý mẩu này để tạo ra một số băm (hash) duy nhất. Nếu số này đã có trong bảng chỉ mục, điều đó có nghĩa mẩu dữ liệu đó là một bản sao và không cần lưu nữa. Nếu không, số băm này được đưa vào bảng chỉ mục.

Việc khử trùng không chỉ áp dụng cho dữ liệu lưu trữ trong hệ thống file hay email. Lợi ích trong các tình huống lưu trữ dự phòng, đặc biệt hồi phục sau thảm họa, cũng rất lớn. Dữ liệu thay đổi hàng ngày không nhiều. Khi truyền một bản lưu đến một trung tâm dữ liệu khác trên mạng diện rộng (WAN), không cần chuyển đúng từng byte mỗi đêm. Áp dụng giải pháp khử trùng giúp giảm dung lượng lưu trữ đáng kể. Mức sử dụng băng thông mạng giảm xuống và khả năng khôi phục sau thảm họa tăng lên.

Ngày càng có nhiều sản phẩm sao lưu tích hợp giải pháp khử dữ liệu trùng, và các thiết bị khử trùng ngày càng hoàn thiện. Việc khử trùng hệ thống file cũng đang phát triển. Chỉ có vài công nghệ có ảnh hưởng lớn hơn khử trùng dữ liệu trong việc giải quyết các vấn đề ứng dụng thực tế CNTT.

2. Ảo hóa desktop

Ảo hóa môi trường làm việc trên máy tính để bàn (desktop) dường như đã hiện diện ở dạng này hay dạng khác lâu nay. Thậm chí có thể nói nó đã xuất hiện từ giữa thập niên 1990. Tuy nhiên hiện nay có nhiều giải pháp ảo hóa desktop mà chúng ta khó có thể hình dung chỉ cách đây vài năm. Còn một dấu ấn khác vừa xuất hiện: công nghệ mới nổi lên dưới cái tên desktop hypervisor.

Dẫn đầu trong lĩnh vực này lâu nay, XenApp và XenDesktop của Citrix Systems là những hình mẫu về cách ảo hóa desktop với một hệ thống máy chủ desktop trong mỗi trung tâm dữ liệu và một hệ thống đầu cuối nhỏ gọn trên mỗi máy tính người dùng.

“Siêu desktop” (desktop hypervisor) là công nghệ ảo hóa desktop mới nhất. Có thể hình dung mỗi desktop chạy trong lớp ảo hóa gần như riêng biệt mô phỏng phần cứng cơ sở thành bất kỳ máy ảo nào bạn muốn để “đẩy” đến người dùng, ở đó nó được quản lý tập trung, đồng bộ với ảnh trên server và dễ dàng thay thế khi có trục trặc. Citrix không độc quyền ý tưởng này, VMware cũng đang phát triển một giải pháp tương tự, và cả hai hứa hẹn đưa ra thị trường trong năm 2010.

Dù giải pháp nào, hiện có hay sắp có, việc quản lý desktop trong môi trường doanh nghiệp vẫn là một trong những thách thức lớn. Trong khi mô hình trung tâm dữ liệu đã thay đổi một cách có hệ thống trong 20 năm qua, mô hình desktop lại không thay đổi. Ở hầu hết mọi nơi, nó vẫn là một hộp to đùng cho mỗi người dùng, với mớ công cụ quản lý xếp lớp để bảo vệ người dùng và bảo vệ mạng.

Liệu có công nghệ ảo hóa desktop nào thích hợp cho doanh nghiệp của bạn mà hoàn toàn không phụ thuộc vào tính chất của doanh nghiệp? Các thiết bị đầu cuối dùng cho trung tâm dịch vụ khách hàng (call center) khá ổn, nhưng bạn có thể gặp rắc rối với các ứng dụng không tương thích khi triển khai cho các nghiệp vụ khác. Khi các công nghệ ảo hóa desktop trở nên phổ biến, sẽ có nhiều cách đưa trình đơn Start đến người dùng và có nhiều cơ hội được người dùng chấp nhận hơn.

1. MapReduce

Tại sao nền tảng lập trình cho việc xử lý dữ liệu phân tán lại được chọn là công nghệ mới quan trọng nhất của năm 2009? Lý do là vì MapReduce cho phép doanh nghiệp thực hiện phân tích lượng dữ liệu khổng lồ với giá hợp lý. Một khả năng hứa hẹn làm thay đổi doanh nghiệp chưa từng thấy.

IDC đã tiên đoán sự tăng trưởng thông tin số gấp 10 lần trong khoảng 5 năm, từ 2006 đến 2011, từ dưới 180 exabyte lên 1.800 exabyte (nghĩa là 1 tỷ tỷ và 800 tỷ gigabyte!). Tất nhiên, sự bùng nổ này đặt ra một thách thức (làm thế nào cất vào, lấy ra và lưu chứa tất cả dữ liệu đó), nhưng cũng là cơ hội to lớn cho các doanh nghiệp. Tóm lại, mọi thứ trong biển dữ liệu đó là thông tin tiềm năng – thông tin có thể giúp cho việc ra các quyết định nghiệp vụ.
Mãi đến gần đây, các doanh nghiệp muốn xử lý hàng petabyte (triệu gigabyte) dữ liệu để tìm mối quan hệ liên quan đến nghiệp vụ phải rất cân nhắc khi đầu tư cho việc đầy mạo hiểm này vì chi phí và thời gian cần thiết là trở ngại. Nhưng điều này đang thay đổi khi có các kỹ thuật xử lý phân tán, đáng kể nhất là MapReduce - nền tảng lập trình cho phép Google, Yahoo, Facebook, MySpace và các hãng khác xử lý khối dữ liệu đồ sộ của họ.

Ở dạng đơn giản nhất, MapReduce chia việc xử lý thành nhiều khối công việc nhỏ, phân tán khắp liên cung gồm các nút tính toán (tiêu biểu là các server thông thường), rồi thu thập các kết quả. Hỗ trợ xử lý song song có khả năng mở rộng cao, MapReduce là giải pháp nhanh, rẻ và an toàn.

Google giới thiệu MapReduce vào năm 2004, và đến nay có nhiều giải pháp triển khai như Apache Hadoop, Qizmt, Skynet và Greenplum. Apache Hadoop là giải pháp nguồn mở hàng đầu. Amazon dùng Hadoop để cung cấp MapReduce như dịch vụ web.

Việc lập trình MapReduce được hỗ trợ trong nhiều sản phẩm phần mềm doanh nghiệp như GigaSpaces eXtreme Application Platform, GridGain Cloud Development Platform, IBM WebSphere eXtreme Scale và Oracle Coherence.
Sự bùng nổ dữ liệu không gì ngăn được là một thực tế. Khi có các giải pháp sử dụng MapReduce, chúng ta sẽ có thể nhìn thấy ý nghĩa của petabyte. Khó tưởng tượng được làm thế nào chỉ mới cách đây 30 năm, doanh nghiệp có thể hoạt động mà không có phần mềm xử lý thông tin nghiệp vụ hay thậm chí bảng tính. Trong tương lai không xa, khi MapReduce trở nên phổ biến, có thể các nhà hoạch định chiến lược cho doanh nghiệp cũng sẽ nhìn lại thời kỳ hiện nay một cách tương tự.

Nguyễn Lê
Nguồn: Infoworld
http://www.pcworld.com.vn/pcworld/magazine_a.asp?t=mzdetail&atcl_id=5F5E5D58565C5E&curpg=0

24/12/09

Khái niệm, ứng dụng địa chỉ MAC

Địa chỉ MAC là gì? Làm thế nào để tìm được địa chỉ MAC của card mạng? Ứng dụng của địa chỉ MAC? là những câu hỏi chúng tôi thường xuyên nhận được từ bạn đọc. Đây là những khái niệm mà hầu hết các tài liệu về mạng căn bản đều đề cập đến. Chúng tôi chỉ tổng hợp lại nhằm giúp người dùng gia đình hiểu rõ hơn về địa chỉ MAC và 1 vài ứng dụng của địa chỉ MAC ở mức độ cơ bản.

KHÁI NIỆM

Trong mô hình OSI (Open Systems Interconnection) hay mô hình tham chiếu kết nối các hệ thống mở thì địa chỉ MAC (Media Access Control) nằm ở lớp 2 (lớp liên kết dữ liệu hay Data Link Layer). Nói một cách đơn giản, địa chỉ MAC là địa chỉ vật lý hay còn gọi là số nhận dạng (Identification number) của thiết bị. Mỗi thiết bị (card mạng, modem, router...) được nhà sản xuất (NSX) chỉ định và gán sẵn 1 địa chỉ nhất định; thường được viết theo 2 dạng: MM:MM:MM:SS:SS:SS (cách nhau bởi dấu :) hay MM-MM-MM-SS-SS-SS (cách nhau bởi dấu -). Địa chỉ MAC là một số 48 bit được biểu diễn bằng 12 số hexa (hệ số thập lục phân), trong đó 24bit đầu (MM:MM:MM) là mã số của NSX (Linksys, 3COM...) và 24 bit sau (SS:SS:SS) là số seri của từng card mạng được NSX gán. Như vậy sẽ không xảy ra trường hợp hai thiết bị trùng nhau địa chỉ vật lý vì số nhận dạng ID này đã được lưu trong chip ROM trên mỗi thiết bị trong quá trình sản xuất, người dùng không thể thay đổi được.

MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐỊA CHỈ MAC VÀ IP

Như đã đề cập ở trên, địa chỉ MAC làm việc ở lớp 2 trong khi địa chỉ IP làm việc ở lớp 3 (lớp mạng hay Network Layer). Địa chỉ MAC là cố định (được thiết lập cứng) trong khi địa chỉ IP có thể thay đổi được (thiết lập mềm). Trong mạng luôn duy trì một ánh xạ giữa địa chỉ IP và địa chỉ MAC của thiết bị. Do đó, các thiết bị thường dùng cơ chế ARP (Address Resolution Protocol) và RARP (Reverse Address Resolution Protocol) để tìm được địa chỉ MAC, IP của các thiết bị khác khi cần thiết lập kết nối. DHCP cũng thường dựa vào địa chỉ MAC để quản lý việc gán địa chỉ IP cho mỗi thiết bị.

CÁCH TÌM ĐỊA CHỈ MAC


Có nhiều cách để xác định địa chỉ MAC, chẳng hạn như dựa vào loại thiết bị đang sử dụng, vào hệ điều hành (HĐH) đang sử dụng.

Với HĐH Windows: Sử dụng lệnh “winipcfg” (Windows 95, 98 và ME) hoặc “ipconfig /all” (Windows NT, 2000, XP, Vista, Windows 7). Cả hai lệnh “winipcfg” và “ipconfig” đều có thể hiển thị nhiều địa chỉ MAC tương ứng với nhiều card mạng khác nhau trên cùng máy tính.

Với HĐH Unix/Linux: Tùy thuộc vào phiên bản HĐH mà lệnh tìm địa chỉ MAC sẽ khác nhau, chẳng hạn trong Linux và 1 vài phiên bản của Unix, lệnh "ifconfig -a" sẽ trả về địa chỉ MAC của thiết bị hoặc có thể tìm địa chỉ MAC trong file log (/var/log/messages hay /var/adm/message). Bên cạnh đó, HĐH cũng hiển thị địa chỉ MAC trên màn hình trong quá trình hệ thống khởi động.

HĐH Macintosh: Trong Macintosh, bạn có thể tìm địa chỉ MAC trong TCP/IP Control Panel. Nếu chạy trên Open Transport, địa chỉ MAC thường xuất hiện bên dưới màn hình "Info" hay "User Mode/Advanced". Nếu chạy trên MacTCP, địa chỉ MAC sẽ ở dưới biểu tượng "Ethernet".

ỨNG DỤNG ĐỊA CHỈ MAC

Quản lý kết nối không dây trên Access Point, Router

Hầu hết các Access Point (AP) và router đều có tính năng quản lý kết nối nhằm tăng cường khả năng bảo mật cho mạng Wi-Fi. Mặc định tính năng này là tắt nên bất kỳ máy khách nào cũng có thể truy cập vào mạng nếu dò được tên mạng (hay còn gọi là SSID) và mật khẩu mã hóa. Để kích hoạt chức năng lọc địa chỉ MAC, trước tiên bạn cần thu thập địa chỉ MAC của từng máy khách (xem lại phần Tìm địa chỉ MAC) cho phép kết nối tới mạng Wi-Fi. Sau đó, bạn chỉ cần điền chúng vào mục lọc địa chỉ MAC trên AP hoặc router, nhấn Ok để xác nhận việc cập nhật danh sách. Sau khi thiết lập, các máy khách không có tên (địa chỉ MAC) trong danh sách sẽ không được phép đăng nhập mạng.

Ghi chú: Việc lọc địa chỉ MAC còn nhiều hạn chế do 1 số phần mềm có thể tạo địa chỉ MAC “ảo" tuy nhiên mạng của bạn vẫn an toàn hơn khi có thêm một lớp bảo mật.

KHỞI ĐỘNG MÁY TÍNH TỪ XA

Để khởi động máy tính từ xa đòi hỏi router và máy tính cùng hỗ trợ chức năng Wake on LAN (WoLAN). Việc thiết lập WoLAN cũng tương đối đơn giản. Cách thực hiện như sau: Trong giao diện cấu hình của router, chọn mục Application và chọn Wake On LAN và nhập địa chỉ MAC của card mạng máy tính cần khởi động. Nếu muốn "đánh thức" 1 máy tính nào đó dựa vào địa chỉ IP, bạn cần kết hợp với tính năng "Bind IP to MAC" - gán cố định địa chỉ IP theo MAC.

Cách đổi địa chỉ MAC
Như đã đề cập bên trên, địa chỉ MAC thường được gán cố định và lưu trong chip ROM trên mỗi thiết bị nhằm tránh trường hợp trùng địa chỉ MAC giữa hai thiết bị. Tuy nhiên trong một số trường hợp cần thiết, bạn vẫn có thể thay đổi địa chỉ MAC để việc cài đặt ứng dụng được thuận tiện hơn, chẳng hạn:
- Với Windows: Địa chỉ MAC thường được lưu trong registry. Do đó, sử dụng lệnh “regedit” để thay đổi địa chỉ MAC. Windows XP có thêm tùy chọn cho phép thay đổi địa chỉ MAC của một số card mạng trong tab Adavanced. Ngoài ra, bạn có thể dùng tiện ích để thực hiện việc này, chẳng hạn tiện ích miễn phí Macshift (http://devices.natetrue.com/macshift).
- Với Mac OS: Sử dụng tính năng MAC Spoofing trên máy tính.
- Với FreeBSD: Sử dụng lệnh theo cú pháp "ifconfig link
" để thay đổi địa chỉ MAC.
- Với Linux: Sử dụng lệnh theo cú pháp "ifconfig hw
" hoặc sử dụng GNU MAC Changer.
- Với Solaris: Sử dụng lệnh theo cú pháp "ifconfig
".

Minh Thư
Nguồn: http://www.pcworld.com.vn/pcworld/magazine_a.asp?t=mzdetail&atcl_id=5F5E5D58585957

21/11/09

OpenDNS là gì?



Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu 3 vấn đề:

1. Thế nào là DNS ?
2. OpenDNS là gì ?
3. Cấu hình OpenDNS để tối ưu trình duyệt.

Thế nào là DNS ?

Tên đầy đủ của DNS là Domain Name System, được dịch là Hệ thống phân giải tên miền. DNS được phát minh vào năm 1984. Công việc chính của DNS là chuyển các hostname thành domain. Ví dụ: http://74.125.153.132/ đây là IP của trang google.com. Thay vì bạn phải nhớ một mớ số như vậy thì DNS sẽ nhớ dùm bạn. Công việc của bạn là chỉ cần gõ google.com, còn công việc của DNS là trỏ tên miền google.com đến IP của nó là http://74.125.153.132/.

Mẹo vặt: Làm sao tôi biết google.com có địa chỉ IP là http://74.125.153.132/. Rất đơn giản, bạn hãy bật CMD lên ( Phím windows + R, gõ cmd), sau đó dùng lệnh ping đến google.com: ping google.com

OpenDNS là gì ?

OpenDNS là một dịch vụ DNS miễn phí. Sử dụng OpenDNS có vài điểm lợi. Trước tiên, bạn có thể thiết lập để chặn truy cập một tên miền nào đó, ví dụ cấm truy cập vào website trò chơi trực tuyến từ máy tính của công ty. Thứ hai, OpenDNS sẽ khóa những tên miền “xấu” của tin tặc. Thứ ba, khi người dùng không nhớ chính xác tên miền họ cần truy cập là gì, OpenDNS sẽ liệt kê những tên miền gợi nhớ. Và cuối cùng, một dịch vụ bổ sung giúp phân giải tên miền nhanh hơn các máy chủ hiện có.

Cấu hình OpenDNS để lướt web nhanh hơn

Mở cửa sổ Internet connections bằng cách chọn phím windows + R, gõ ncpa.cplenter.
Click chuột phải lên Local Area Network Connection option và chọn Properties.


Chọn Internet Protocol Version 4 (TCP/IPv4) và click vào Properties button.


Trong cửa sổ Internet Protocol Version 4 (TCP/IPv4) Properties , Chọn Use the following DNS Server Addresses option và điền IP phía dưới vào:
* 208.67.222.222
* 208.67.220.220



Sau đó click Ok để hoàn tất.

Tài liệu tham khảo:
http://www.addictivetips.com/windows-tips/what-is-opendns-speed-up-your-web-browsing/
http://www.pcworld.com.vn/pcworld/magazine_OL.asp?t=mzdetail&atcl_id=5f5e5d5b565b5a

Tin Học & Ứng Dụng

What Is Winlogon.exe Process?

Why is the Winlogon.exe process always running? Because it is responsible for handling the very important task of user authentication. Whenever you boot your computer and enter the user name and password, this process is invoked. In short, it is one of the most vital system processes.



How To Find The Location Of The WinLogon.exe

This process was first introduced in Windows XP and all the latest versions of Windows have this process as well. Typically it is located on the c:\windows\system32 path. But if you wish to determine it’s location, open the Task Manager, right-click the process name and click the Open File Location option.



Can Winlogon.exe be a Virus ?

If you find this process running from anywhere else then the default location then you should be suspicious, as many malware try to infect your system by using names of such commonly needed processes. In such situations, give your system a through scan with a good anti-virus and anti-malware application. Enjoy!

Nguồn: http://www.addictivetips.com/windows-tips/what-is-winlogon-exe-process/

20/11/09

Hackers: Thiên thần và Tội phạm



Phim với phụ đề tiếng việt. Bộ phim kể về lịch sử hình thành giới hacker và một số vụ tấn công lớn trong lịch sử tính đến thời điểm phim được xuất bản. Một khái niệm và sự hiểu biết tổng quát về thế giới ngầm .... nơi có đủ mọi thành phần .... thiên thần và tội phạm ....

Tải về:
http://www.mediafire.com/download.php?0imnmekynnj
http://www.mediafire.com/download.php?iznzmc0mjmm
http://www.mediafire.com/download.php?ygzyyvnteyz
http://www.mediafire.com/download.php?52izizzzgzo


Nguồn: http://haiphongit.com/forum/showthread.php?t=12883

Lịch Sử Hình Thành Internet




Phim với phụ đề tiếng việt. Chúc các bạn có nhiều kiến thức bổ ích.

Tải về:
http://www.mediafire.com/download.php?izzzwy2nywy
http://www.mediafire.com/download.php?ozftxonhycm
http://www.mediafire.com/download.php?ui3jmw125nq
http://www.mediafire.com/download.php?hejmyoimywm
http://www.mediafire.com/download.php?mdz2ynytgkg


Nguồn: http://haiphongit.com/forum/showthread.php?t=12873

Cuộc Cách Mạng Hệ Điều Hành



Mình chưa xem nên hiện tại chưa có nhận xét gì về phim này. Tuy nhiên, mình xin chia sẽ bộ phim này cho các bạn. Chúc các bạn sẽ có nhiều kiến thức sau khi xem.

Tải về:

http://www.mediafire.com/download.php?2jnhtnnjxzg
http://www.mediafire.com/download.php?jeglihyzbmu
http://www.mediafire.com/download.php?ezt3ymtim2y
http://www.mediafire.com/download.php?nmdmmmomvwx
http://www.mediafire.com/download.php?ddjwiojyymn
http://www.mediafire.com/download.php?gt0vmgzzhqn
Part 7:
http://rapidshare.com/files/23846793...onOS.part7.rar
Or
http://mihd.net/9rc6we
Or
P7: http://www.mediafire.com/?omhz2x13j3x

pass: svcva.com


Riêng Part7 có 3 link, bạn chọn 1 link để tải.

Nguồn: http://haiphongit.com/forum/showthread.php?t=12871

10/10/09

Lịch sử Hệ điều hành windows từ 1985 -2009




Windows 1.01 (1985)

Officially released on November 20, 1985, this 16-bit OS that cost less than 1MB in overall is Microsoft’s very first operating system that allows multi tasking with graphical user interface on PC platform that runs on MS-DOS 5.0.







Windows 1.03 (1986)

Introduced in 1986, Windows 1.03 is an upgrade to its previous predecessor Windows 1.01. Entire operating system cost about 2.2Mb hard disk space.






Windows 2.03 (1987)

Taking advantage of the speed of Intel 286/386 processor at that time, Windows 2.03 is a replacement for Windows 1.x. It also starts the era where users are able to overlap windows, customize screens, etc. Still the entire operating system cost no more than 2.5Mb.






Windows 2.86 (1989)




Windows 3.0 (1990)

This is the third major released of Microsoft Windows with a improved set of Windows icons and applications like File Manager, Program Manager that is still being used in today’s Windows. This 22 May 1990 released operating system is then replaced by Windows 3.1 two years later.






Windows 3.1 (1992)

Windows 3.1 is probably the earliest Windows most of us are familiar with. Windows 3.1 and later Windows 3.1x is an upgrade to Windows 3.0 with bug fixes and multimedia support.








Windows NT 3.1 (1993)
The first Windows New Technology (NT) introduced. It maintains consistency with the Windows 3.1, a well-established home and business operating system at the time, the new Windows NT operating system began with version 3.1. Unlike Windows 3.1, however, Windows NT 3.1 was a 32-bit operating system.




Windows 3.11 (1993)

A superset of Windows 3.1, Windows for Workgroups 3.11 added peer-to-peer workgroup and domain networking support. For the first time, Windows–based PCs were network-aware and became an integral part of the emerging client/server computing evolution – Microsoft






Windows NT 3.51 Workstation (1995)

The Windows NT Workstation 3.5 release provided the highest degree of protection yet for critical business applications and data. With support for the OpenGL graphics standard, this operating system helped power high-end applications for software development, engineering, financial analysis, scientific, and business-critical tasks – Microsoft






Windows 95 (1995)

Previously code-named Chicago, Windows 95 is a successor to all the existing Windows operating system so far. It gives full graphical user interface support, integrated a 32-bit TCP/IP (Transmission Control Protocol/Internet Protocol) stack for built-in Internet support, dial-up networking, and new Plug and Play capabilities that made it easy for users to install hardware and software.






Windows NT 4.0 (1996)

Windows NT Workstation 4.0 included the popular Windows 95 user interface yet provided improved networking support for easier and more secure access to the Internet and corporate intranets – Microsoft.






Windows NT Server 4.0 (1996)






Windows 98 (1998)

Windows 98 was the upgrade from Windows 95. Described as an operating system that "Works Better, Plays Better," Windows 98 was the first version of Windows designed specifically for consumers – Microsoft.






Windows 2000 (2000)

More than just the upgrade to Windows NT Workstation 4.0, Windows 2000 Professional was also designed to replace Windows 95, Windows 98, and Windows NT Workstation 4.0 on all business desktops and laptops. Built on top of the proven Windows NT Workstation 4.0 code base, Windows 2000 added major improvements in reliability, ease of use, Internet compatibility, and support for mobile computing – Microsoft.






Windows 2000 Server (2000)





Windows ME (2000)

Designed for home computer users, Windows Me offered consumers numerous music, video, and home networking enhancements and reliability improvements – Microsoft.







Windows XP (2001)

Windows XP Professional brings the solid foundation of Windows 2000 to the PC desktop, enhancing reliability, security, and performance. With a fresh visual design, Windows XP Professional includes features for business and advanced home computing, including remote desktop support, an encrypting file system, and system restore and advanced networking features – Microsoft.








Windows Server 2003 (2003)

Released on April 2003, and also known as Win2k3, this operating system is a sucessor to it’s predecessor Windows Server 2000 (Win2k).






Windows Vista (2006)

Came more than 5 years after it’s predecessor Windows XP, Vista is the longest timeline break for Microsoft between two operating system. Read more.








Windows 7 (2009)

Codenamed Blackcomb, Windows 7 is one of the most anticipated operating system which should be available somewhere in Oct 2009. Read more.







Nguồn: http://www.hongkiat.com/blog/evolution-of-microsoft-windows-1985-2009/